Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể và kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, liên kết chuỗi giá trị và hợp tác vùng không chỉ là yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của HTX mà còn là chiến lược phát triển bền vững cho khu vực phía Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và áp lực cạnh tranh toàn cầu.

Quan cảnh buổi họp

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa XIII xác định: “Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tập thể là xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.” Nghị quyết cũng nhấn mạnh Quan điểm chỉ đạo: “Có chính sách ưu tiên đối với các tổ chức KTTT trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.”  Và mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị.

Liên kết chuỗi giá trị (CGT) được hiểu là quá trình gắn kết các chủ thể trong toàn bộ vòng đời sản phẩm – từ sản xuất, thu mua, chế biến, phân phối đến tiêu dùng – nhằm tối ưu hóa giá trị gia tăng, giảm chi phí trung gian và tăng lợi ích chung cho tất cả tác nhân. HTX giữ vai trò trung gian chiến lược, tổ chức liên kết ngang giữa các hộ thành viên và liên kết dọc với doanh nghiệp, ngân hàng, nhà khoa học, nhà nước và thị trường.

Theo quan điểm hiện đại, liên kết chuỗi giá trị bền vững phải đạt ba tiêu chí: “Hiệu quả kinh tế – tạo ra giá trị gia tăng và lợi nhuận ổn định; Hài hòa xã hội – đảm bảo lợi ích giữa các tác nhân theo nguyên tắc Win–Win; Bảo vệ môi trường – không làm tổn hại đến tài nguyên và thế hệ tương lai”.

Có thể thấy, thực trạng liên kết giữa hợp tác xã với các thành phần kinh tế khác tính đến hết năm 2025, toàn tỉnh Cà Mau có 617 HTX, trong đó 484 HTX nông nghiệp (chiếm 79%) và 128 HTX phi nông nghiệp (chiếm 21%). Hiện có 482 HTX hoạt động ổn định, còn lại 130 HTX tạm ngừng hoạt động. Theo kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2025, tỉnh phấn đấu hình thành ít nhất 53 chuỗi liên kết sản xuất giữa các HTX, THT với các doanh nghiệp trong nuôi tôm quảng canh cải tiến và nuôi tôm siêu thâm canh; ít nhất 12 chuỗi liên kết sản xuất cua; ít nhất 64 chuỗi liên kết sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp.

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng, mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm của các HTX đang từng bước mở rộng, phù hợp với đặc thù sản xuất của từng ngành hàng chủ lực. Các hình thức liên kết hiện nay có thể chia thành các nhóm chính như: Doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu; Doanh nghiệp và HTX chế biến, tiêu thụ nội địa; Hệ thống chợ đầu mối và thương lái khu vực; Cửa hàng, siêu thị và sàn thương mại điện tử; Các khu du lịch sinh thái và dịch vụ ẩm thực địa phương.

Trên địa bàn tỉnh Cà Mau có một số mô hình liên kết theo chuỗi điển hình như; HTX Tân Phát Lợi sản xuất hơn 16 sản phẩm chất lượng cao, trong đó có 07 sản phẩm OCOP, nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh, khu vực và quốc gia. HTX duy trì chuỗi cung ứng ổn định với 14 đại lý, 03 siêu thị lớn (Saigon, OCOP Organica, Bác Tôm) và hệ thống cửa hàng thực phẩm an toàn trên toàn quốc. Đặc biệt là HTX Ba Khía Đầm Dơi (Cà Mau): Đầu tư dây chuyền sản xuất theo tiêu chuẩn HACCP, nâng cao mẫu mã và chất lượng sản phẩm. Sau khi tham gia chương trình OCOP, sản lượng tăng từ 10–15 tấn lên 45–50 tấn/năm, doanh thu tăng 15–30 %, tạo việc làm cho 20 lao động với thu nhập 6–7 triệu đồng/tháng. HTX duy trì tiêu thụ qua Sàn thương mại điện tử và mạng xã hội rất mạnh. Đồng thời HTX Dịch vụ nông nghiệp Ba Đình (Bạc Liêu cũ) Gồm 250 thành viên, vốn điều lệ 300 triệu đồng, vốn hoạt động 467 triệu đồng. HTX triển khai 15 dịch vụ đa dạng, từ cung ứng vật tư, tiêu thụ tôm – lúa, đến vận tải hàng hóa và cung ứng nhu yếu phẩm giá rẻ. Mô hình góp phần giảm rủi ro sản xuất, hạ chi phí, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho thành viên. HTX Artemia Vĩnh Châu (Bạc Liêu cũ): Có 17 thành viên chính thức, 50 liên kết, vốn điều lệ 7 tỷ đồng, vốn hoạt động hơn 20 tỷ đồng. HTX liên kết với 5 HTX cùng ngành, bao tiêu trứng Artemia trên diện tích 250 ha, xuất khẩu đạt 15–20 tỷ đồng/năm. Hoạt động giúp tạo việc làm, thu nhập ổn định cho trên 300 lao động; đồng thời tích cực tham gia an sinh xã hội, đóng góp hơn 120 triệu đồng giai đoạn 2021–2025.

Lao động tại HTX Ba khía Đầm Dơi

Bên cạnh đó, mặc dù các mô hình liên kết chuỗi giá trị ở khu vực phía Nam, đặc biệt tại Cà Mau, đã có bước phát triển tích cực, song nhìn chung vẫn thiếu tính bền vững và chưa phát huy vai trò trung tâm của HTX trong chuỗi giá trị nông – thủy sản. Số đông các HTX liên kết chưa thực chất, thiếu cơ chế “cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro”. Phần lớn hợp đồng chỉ mang tính ngắn hạn, thiếu ràng buộc trách nhiệm và phân chia lợi ích dài hạn; dễ xảy ra tình trạng doanh nghiệp giảm thu mua hoặc HTX bán ra ngoài khi giá biến động. Năng lực quản trị và thị trường của HTX còn yếu, nhiều HTX quy mô nhỏ, vốn thấp, chủ yếu làm dịch vụ đầu vào, ít tham gia tiêu thụ sản phẩm. Đội ngũ quản lý lớn tuổi, thiếu kỹ năng đàm phán, chuyển đổi số và marketing. Hạ tầng và dịch vụ chuỗi giá trị còn thiếu kho lạnh, trung tâm bảo quản, logistics và cơ sở chế biến sâu chưa phát triển; các HTX vùng sâu vẫn phụ thuộc thương lái, làm giảm giá trị sản phẩm. Thiếu nền tảng dữ liệu và công nghệ quản trị số trong HTX áp dụng phần mềm quản lý, truy xuất nguồn gốc hoặc bán hàng trực tuyến còn rất ít; chủ yếu ghi chép thủ công, khó chứng minh chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Cơ chế tiếp cận chính sách và nguồn lực hỗ trợ còn hạn chế dù có nhiều chương trình ưu tiên, nhưng đa số HTX chưa đủ điều kiện pháp lý, tài chính để vay vốn ưu đãi, nhận hỗ trợ đầu tư hay đổi mới công nghệ.

Nên vậy, có thể thấy rằng để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế tập thể gắn với chuỗi giá trị và hợp tác vùng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp như nâng cao nhận thức, năng lực quản trị và chuyển đổi số trong liên kết chuỗi giá trị, xây dựng mô hình liên kết bền vững “Win–Win”, Gắn liên kết chuỗi với phát triển bền vững và kinh tế xanh, Phát huy vai trò Liên minh HTX tỉnh trong việc đề xuất và kiến nghị triển khai liên kết chuỗi giá trị và hợp tác vùng;

Đẩy mạnh tuyên truyền về tầm quan trọng của liên kết chuỗi giá trị và hợp tác vùng theo tinh thần Luật HTX 2023. Đào tạo giám đốc HTX, có năng lực quản trị tài chính, đàm phán hợp đồng, marketing và ứng dụng dữ liệu số. Hỗ trợ xây dựng hệ thống dữ liệu số HTX vùng, tích hợp nền tảng quốc gia; triển khai sàn giao dịch điện tử sản phẩm HTX vùng ĐBSCL, kết nối cung – cầu, xúc tiến thương mại và xuất khẩu. Áp dụng mô hình “liên kết lướt sóng”, ký hợp đồng ổn định 60% sản lượng – 40% linh hoạt theo thị trường. Hình thành chuỗi giá trị dài hạn, doanh nghiệp làm “đầu tàu”, HTX là “hạt nhân vùng nguyên liệu”.

Thúc đẩy các mô hình sản xuất tuần hoàn đặc trưng vùng, như tôm – cua – lúa sinh thái, hướng tới chứng nhận quốc tế ASC, Organic, GlobalGAP. Tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, xử lý chất thải và giảm phát thải carbon trong toàn chuỗi giá trị. Liên minh HTX các cấp đóng vai trò cầu nối điều phối chuỗi liên kết giữa HTX – doanh nghiệp – nhà khoa học – Nhà nước, đồng thời tư vấn mô hình hợp tác, hỗ trợ pháp lý, xúc tiến thương mại và chuyển đổi số cho HTX. Chủ động thực hiện Luật HTX năm 2023, tái cấu trúc mô hình tổ chức theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, đa dịch vụ và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Nâng cao năng lực quản trị và chuyển đổi số, xây dựng kế hoạch sản xuất – kinh doanh dựa trên dữ liệu, ứng dụng phần mềm quản lý, kế toán số, nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc. Phát triển mô hình HTX kiểu mới gắn chuỗi giá trị, liên kết với doanh nghiệp, ngân hàng, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu để hình thành các “cụm liên kết ngành hàng” bền vững.

Tăng cường hợp tác ngang giữa các HTX, hình thành Liên hiệp HTX chuyên ngành (tôm, cua, lúa, du lịch sinh thái, sản phẩm OCOP) để mở rộng quy mô, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Chú trọng xây dựng thương hiệu tập thể, đăng ký nhãn hiệu, mã số vùng trồng – vùng nuôi, tham gia chương trình OCOP và các sàn thương mại điện tử, hướng tới thị trường trong nước và xuất khẩu. Tích cực tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn và tư vấn của Liên minh HTX, UBND tỉnh và các trường đào tạo, nhằm nâng cao nhận thức, tư duy kinh tế số và năng lực kinh doanh cho đội ngũ cán bộ HTX.

Bên cạnh đó, các Doanh nghiệp và đối tác cũng cần Xem HTX là đối tác chiến lược trong chuỗi cung ứng, đồng hành từ sản xuất đến tiêu thụ, thay vì chỉ là đơn vị cung cấp nguyên liệu. Thiết lập cơ chế hợp đồng dài hạn, minh bạch giá cả và chia sẻ rủi ro, hướng tới mô hình “liên kết cùng phát triển – Win–Win”. Hỗ trợ kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, bao tiêu sản phẩm và chuyển giao công nghệ cho HTX trong các ngành hàng chủ lực (tôm, cua, lúa, rau màu, sản phẩm OCOP). Tham gia đầu tư hạ tầng logistics, kho lạnh, nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu liên kết, qua đó vừa ổn định nguồn cung, vừa nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu. Đồng hành trong chuyển đổi số và thương hiệu vùng, cùng HTX xây dựng mã vùng trồng, mã số nuôi, truy xuất nguồn gốc điện tử và thương hiệu hàng hóa địa phương. Có như vậy thì mục tiêu cụ thể đến năm 2030, bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị theo Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa XIII về phát triển kinh tế tập thể (KTTT) sẽ không còn là bài toán khó.

            Quách  Quốc