Kinh tế tập thể tăng trưởng mạnh về quy mô và chất lượng

Theo báo cáo, đến ngày 31/12/2025, cả nước có 65.918 tổ hợp tác với khoảng 1 triệu thành viên. Số lượng hợp tác xã đạt 35.041 đơn vị, tăng 34% so với năm 2020. Tổng số thành viên tham gia hợp tác xã đạt 5,98 triệu người, phản ánh xu hướng mở rộng quy mô và sức lan tỏa ngày càng lớn của mô hình kinh tế tập thể trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Kinh tế tập thể hợp tác xã tiếp tục khẳng định vai trò trong phát triển bền vững.

Cùng với đó, số lượng liên hiệp hợp tác xã cũng tăng trưởng rõ nét. Đến hết năm 2025, cả nước có 164 liên hiệp hợp tác xã, tăng 64% so với năm 2020, với tổng số 1.057 hợp tác xã thành viên, tăng 66%. Đây là bước tiến quan trọng trong việc tăng cường liên kết, hợp tác giữa các hợp tác xã, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Báo cáo đánh giá, giai đoạn 2021-2025, khu vực kinh tế tập thể đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng hoạt động. Nhiều hợp tác xã từng bước đổi mới mô hình quản trị, mở rộng liên kết với doanh nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ.

Bước sang giai đoạn 2026-2030, kinh tế tập thể và hợp tác xã tiếp tục phát triển trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao. Điều này đòi hỏi các hợp tác xã phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Theo định hướng phát triển, Việt Nam tiếp tục xây dựng khu vực kinh tế tập thể năng động, hiệu quả và bền vững, thu hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia. Trọng tâm là không ngừng nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên, đồng thời phát huy vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.

Mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có khoảng 140.000 tổ hợp tác với 2 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; và khoảng 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên. Tỷ lệ hợp tác xã hoạt động hiệu quả, xếp loại khá và tốt đạt từ 60% trở lên, tạo nền tảng cho sự phát triển ổn định và lâu dài của khu vực này.

Bên cạnh đó, cả nước phấn đấu có trên 5.000 hợp tác xã và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đến năm 2030, khoảng 50% hợp tác xã nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, qua đó nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường tiêu thụ và giảm rủi ro trong sản xuất cho các thành viên.

Mở rộng mô hình hợp tác xã gắn với thị trường

Trong lĩnh vực nông nghiệp, giai đoạn 2026-2030 tập trung phát triển hợp tác xã theo mô hình dịch vụ tổng hợp, gắn sản xuất với tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Các địa phương, ban ngành vận động thành lập mới hợp tác xã tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tạo sinh kế bền vững, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống người dân.

Song song với đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để các hợp tác xã xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của địa phương và đưa sản phẩm ra thị trường trong nước và xuất khẩu. Việc hỗ trợ về xúc tiến thương mại, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và chuyển đổi số được xác định là giải pháp then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của hợp tác xã nông nghiệp.

Trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, Việt Nam nghiên cứu xây dựng một số liên hiệp hợp tác xã công nghiệp và hợp tác xã dịch vụ công nghiệp tại các vùng có nhiều làng nghề và cụm công nghiệp nông thôn. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành và phát triển các làng nghề mới, góp phần bảo tồn giá trị truyền thống gắn với phát triển sản xuất hiện đại và tạo việc làm tại chỗ.

Đối với lĩnh vực thương mại - dịch vụ, các hợp tác xã được khuyến khích phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, tham gia hệ thống phân phối và chuỗi kinh doanh của các liên hiệp hợp tác xã thương mại hoặc doanh nghiệp lớn. Đồng thời, Việt Nam đẩy mạnh phát triển hợp tác xã du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương.

Trong lĩnh vực tín dụng, Việt Nam hướng tới tăng cường liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính và điều hòa vốn nhằm bảo đảm an toàn cho các quỹ tín dụng nhân dân. Đồng thời, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của thành viên, phát triển ngân hàng hợp tác xã có năng lực tài chính vững mạnh, góp phần hỗ trợ hiệu quả cho khu vực kinh tế tập thể và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

TM (ST Theo báo Kinh tế - Tài chính)