Nghị quyết 85/NQ-CP hướng đến xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa đồng thời phát triển nông nghiệp dựa trên lợi thế so sánh quốc gia theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng cao, hiệu quả, bền vững, có sức cạnh tranh cao thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á và Top 15 trên thế giới vào năm 2030. Đi cùng với đó là đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, kim ngạch xuất khẩu nông sản duy trì đà tăng trưởng cao. Trong đó xác định, nông dân là chủ thể, trung tâm của quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp.

Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác, với 2 triệu thành viên; 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên; 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên. Bảo đảm trên 60% tổ chức kinh tế tập thể đạt loại tốt, khá, trong đó có ít nhất 50% tham gia liên kết theo chuỗi giá trị. Có trên 5.000 Hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa gắn với liên kết sản xuất, cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Đến năm 2045: Phấn đấu thu hút tối thiểu 20% dân số tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Mở rộng quy mô hoạt động của các tổ chức kinh tế tập thể, chất lượng hoạt động ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới. Bảo đảm trên 90% tổ chức kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả, trong đó có ít nhất 75% tham gia các chuỗi liên kết. Phấn đấu có ít nhất 3 tổ chức kinh tế tập thể nằm trong bảng xếp hạng 300 hợp tác xã lớn nhất toàn cầu do Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) công nhận. Các tổ chức kinh tế tập thể đều áp dụng công nghệ, nhất là chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ (Trích theo nội dung trong Nghị Quyết 20/NQ-TW, ngày 16 tháng 6 năm 2022).

Để đạt được những mục tiêu trên, cần tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Và nền tảng trọng tâm của điều này là xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết giá trị chặt chẽ giữa doanh nghiệp, HTX và người nông dân. Đặc biệt, để phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, thông minh, gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa; chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Nghị quyết 85/NQ-CP đã chỉ rõ cần tập trung đào tạo phát triển nguồn nhân lực và quản trị HTX theo hướng chuyên nghiệp, số hóa. Xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về HTX và chuỗi giá trị nông sản, làm cơ sở tích hợp điều hành, giám sát chính sách. 

Đi liền với đó là tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp, HTX, ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng, tài chính và bảo hiểm nông nghiệp; đầu tư phát triển hạ tầng vùng nguyên liệu, các trung tâm đổi mới sáng tạo, logistics, kho bảo quản, cơ sở chế biến quy mô phù hợp. Để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản, Nghị quyết 85/NQ-CP xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục củng cố và phát triển kinh tế tập thể, HTX hiệu quả, hiện đại, gắn với chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở nông thôn. Ưu tiên hỗ trợ HTX nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp; HTX nông nghiệp tham gia phát triển vùng nguyên liệu nông sản tập trung.

Ngoài ra, các chính sách như: Hỗ trợ kết nối, thúc đẩy chế biến, tiêu thụ trong nước; dự báo và phối hợp với các địa phương xây dựng phương án hỗ trợ tiêu thụ kịp thời nông sản chính vụ; phối hợp tổ chức kết nối thu mua nông sản, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản trong các hệ thống, chuỗi siêu thị lớn, tổ chức các diễn đàn hỗ trợ kết nối tiêu thụ nông sản; đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu; Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại… cũng được cho là đang góp phần hỗ trợ đắc lực khu vực kinh tế tập thể, HTX trên cả nước phát triển hiệu quả, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cần xác định vai trò của lực lượng thương lái, tích hợp đối tượng này vào chuỗi giá trị lúa gạo và nông sản thông qua các HTX. Phương pháp này giúp chuyên nghiệp hóa khâu trung gian, đảm bảo lợi ích hài hòa cho người sản xuất trực tiếp, doanh nghiệp tham gia liên kết.

Nên vậy, để các Hợp tác xã thực sự trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa các mục tiêu, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính đột phá, khắc phục những hạn chế đã chỉ ra. Cần hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023 kịp thời, đồng bộ, khả thi, bảo đảm tính nhất quán và phù hợp với thực tiễn, Nghị định số 295/2026/NĐ-CP về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (thay đổi, bổ sung cho Nghị định 92/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2024), đặc biệt là các quy định về đất đai, tín dụng, thuế, chính sách hỗ trợ đặc thù cho từng loại hình, lĩnh vực hợp tác xã (nông nghiệp công nghệ cao, hợp tác xã tạo việc làm, hợp tác xã cộng đồng…). Cần có cơ chế rõ ràng để xử lý dứt điểm các hợp tác xã yếu kém kéo dài, hoạt động hình thức, đồng thời khuyến khích thành lập các hợp tác xã kiểu mới hoạt động thực chất.

Cần tập trung thay đổi mới tư duy và cách làm mới. Chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang phục vụ, kiến tạo phát triển. Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho hợp tác xã phát triển; giảm thiểu các thủ tục hành chính rườm rà; tăng cường hậu kiểm thay vì tiền kiểm. Cần phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng hỗ trợ, dịch vụ công cho hợp tác xã, tránh chồng chéo, nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan. Xây dựng và triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Chính sách hỗ trợ cần cụ thể, thiết thực, dễ tiếp cận và tập trung vào các khâu yếu, như: hỗ trợ thành lập mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ứng dụng khoa học – công nghệ, xúc tiến thương mại, tiếp cận tín dụng ưu đãi, phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị. Cần có cơ chế đánh giá hiệu quả thực thi chính sách thường xuyên để kịp thời điều chỉnh. Đặc biệt, cần chính sách đủ mạnh để khuyến khích liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức. Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về bản chất tốt đẹp, vị trí, vai trò của kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn. Cần làm rõ sự khác biệt căn bản giữa hợp tác xã kiểu mới và mô hình hợp tác xã cũ để xóa bỏ định kiến, tạo sự đồng thuận xã hội và thu hút người dân, nhất là thế hệ trẻ, tham gia phát triển hợp tác xã. Nâng cao năng lực nội tại và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Củng cố tổ chức, đổi mới quản trị theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch: hợp tác xã cần xây dựng quy chế hoạt động dân chủ, công khai, minh bạch; kiện toàn bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả; nâng cao vai trò của Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên. Khuyến khích thuê giám đốc điều hành có năng lực, chuyên môn. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc hợp tác xã, đặc biệt là nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và phân phối lợi ích công bằng, hợp lý để tạo động lực và sự gắn bó của thành viên.

Buổi tuyên truyền luật HTX 2023

Song song đó, năng lực tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển, nên vậy cần khuyến khích thành viên góp vốn đầy đủ, đúng hạn; xây dựng cơ chế huy động vốn nội bộ hiệu quả. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động từ bên ngoài (vay ngân hàng, quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, các dự án, đối tác…). Nhà nước cần có cơ chế tín dụng ưu đãi phù hợp, thủ tục đơn giản để hợp tác xã dễ dàng tiếp cận vốn, đặc biệt là các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã ở vùng khó khăn. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng, nâng cao năng lực quản trị, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thị trường cho đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã. Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cần thiết cho thành viên để họ tham gia hiệu quả vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý hợp tác xã. Gắn kết công tác đào tạo với nhu cầu thực tế của hợp tác xã và thị trường lao động. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: khuyến khích, hỗ trợ hợp tác xã đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, sản xuất theo tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ…), nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh. Hỗ trợ hợp tác xã xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Tăng cường liên kết, hợp tác; cần chủ động tìm kiếm đối tác, xây dựng các mối liên kết bền vững theo chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tàu. Phát triển các hình thức liên kết ngang giữa các hợp tác xã để hình thành các liên hiệp hợp tác xã đủ mạnh, nâng cao vị thế trên thị trường. Khuyến khích hợp tác xã tham gia các hiệp hội ngành hàng.  Phát huy vai trò của hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam. Hệ thống Liên minh Hợp tác xã cần thực sự là tổ chức đại diện tin cậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hợp tác xã, thành viên. Tăng cường năng lực tư vấn, hỗ trợ hợp tác xã về pháp lý, kỹ thuật, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển hợp tác xã và giám sát việc thực thi. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và tranh thủ nguồn lực. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tăng cường tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tham gia xây dựng và phát triển hợp tác xã. Phối hợp giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về hợp tác xã. Tham gia hỗ trợ hợp tác xã trong các hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường, góp phần gắn kết hợp tác xã với cộng đồng dân cư.

Bên cạnh đó, cần gắn kết phát triển hợp tác xã với các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ phát triển hợp tác xã vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, ngành và địa phương. Đặc biệt, gắn kết chặt chẽ với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình giảm nghèo bền vững, Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhận thức rõ và khai thác hiệu quả vai trò của Hợp tác xã trong việc thực hiện các mục tiêu cụ thể của chủ nghĩa xã hội, như: thực hành dân chủ cơ sở, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng con người mới, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh tại địa bàn. Cần có cơ chế khuyến khích, tôn vinh các hợp tác xã làm tốt vai trò này. Đổi mới phương thức hoạt động và tư duy quản lý (Cách làm mới, sáng tạo) để kinh tế tập thể thực sự là trụ đỡ, HTX không thể duy trì cách làm cũ. Sự đổi mới phải bắt nguồn từ tư duy và phương thức hoạt động. Xây dựng chuỗi giá trị và liên kết sản xuất, tăng cường liên kết sản xuất, đây là giải pháp cốt lõi; HTX cần đóng vai trò là "nhà tổ chức sản xuất" chuyên nghiệp từ khâu cung ứng vật tư đầu vào chất lượng, kiểm soát quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP), đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

HTX Ba Đình chủ động liên kết với các đối tác nước ngoài và công ty trong tiêu thụ đầu ra sản phẩm gạo BL9

 Mối liên kết này phải được ràng buộc bằng các hợp đồng kinh tế (liên kết sản xuất) rõ ràng, minh bạch, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa HTX và thành viên. Đổi mới phương thức quản trị, áp dụng công cụ quản lý hiện đại, minh bạch hóa tài chính. Có cơ chế giám sát chéo hiệu quả giữa Ban Kiểm soát và thành viên. Khuyến khích HTX đầu tư vào chế biến sâu, xây dựng nhãn hiệu OCOP (Mỗi xã một sản phẩm) và thương hiệu riêng. Sự sáng tạo phải thể hiện qua việc đa dạng hóa dịch vụ, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn mở rộng sang du lịch sinh thái, thủ công mỹ nghệ... có như thế thì hệ thống Hợp tác xã mới có thể ngày càng phát triển, ngày càng khẳng định vai trò trong việc phát triển kinh tế - xã hội quốc gia.

Có thể thấy, phát triển kinh tế tập thể không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị - xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh. Với sự quyết tâm của các cấp, ngành, sự năng động của các HTX, chúng ta tin tưởng rằng kinh tế tập thể sẽ ngày càng khẳng định vị thế, trở thành nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.

          Quách Quốc